Ông là Văn Tiến Thịnh, một người mù, nay đã 80 tuổi. Những năm trước, ông vẫn đi bộ quanh hồ Trúc Bạch, chợ Châu Long (quận Ba Đình) để bán chổi dạo, với một suy nghĩ rất thành thật: “Người mù không phân biệt được các mệnh giá nhưng phân biệt được tiền thật và tiền giả, hơn nữa tiền của người mù đi bán chổi không đến từ manh tâm của người mắt sáng”.

Ong-gia-mu-ban-doi-dao

Ông Văn Tiến Thịnh bán chổi dạo trên các con phố gần chợ Châu Long (Ảnh: Hoài An, chụp năm 2011)

Vẫn còn vãng vất tiếng hát xẩm trên tàu chợ

Tiếng còi tàu của ga Hà Nội đã in sâu vào trong tâm trí đã gần 80 tuổi của người đàn ông mù Văn Tiến Thịnh. Giã từ cái chỗ ngồi ở góc chợ để cạp lại rổ rá, dần sàng, ông lên tàu đi hát xẩm. “Thời ấy, xẩm chỉ đứng sau ăn xin một bậc, nhưng mình vẫn làm để có tiền nuôi con!”, ông Thịnh nói.

Mắt mù, bù lại là đôi tai đã dẫn đường cho ông lên đúng ngôi nhà thứ hai của mình: tàu chợ. Tuyến Hà Nội-Lạng Sơn; Hà Nội-Yên Bái, Lào Cai; Hà Nội- Hải Phòng…là chặng mưu sinh thuộc lòng bàn tay của ông. Trước khi gia nhập phường xẩm, ông phải nghe đài và học thuộc các bài xẩm và ca khúc có âm hưởng buồn buồn, ghi nhớ các tín hiệu tại ga của tàu trên 11 đường ray.

Tay đàn, miệng hát, một túi xách đeo trước ngực. Đàn gảy tới đâu thì gợi lòng trắc ẩn tới đó, ông khẳng định: “Đi hát về, tiền tiêu thoải mái trong mức sống nghèo. Đấy là tôi còn sĩ diện, hát theo kiểu tài tử, ai cho thì cho, không xin”.

Bảy năm bám tàu, ông biết đủ loại người. Có cảnh mùa đông, người bần hàn chui trong bì tải ngóc đầu ra để tránh rét. Có gặp hàng tá gái điếm “bôn tẩu giang hồ”. Nhiều lúc, ông ngồi trà nước hàn huyên dí dỏm với bảo vệ các trạm ga để được họ cho phép lên tàu.

Ông đã nghe được tiếng khóc ỉ ôi, tiếng chửi thề trong đêm khi ai đó mất tiền bởi bán lừa buôn bịp. Ông nói: “Không nhìn thấy, nhưng tôi giao tiếp với họ qua từng câu nói. Họ thương một anh mù biết vì gia đình mà tích tiểu thành đa”.

Ong-gia-mu-ban-choi-dạo 2

Ông Văn Tiến Thịnh nói: "Người mù phân biệt được tiền thật và tiền giả" (Ảnh: Hoài An)

Gậy khua, chuông kêu

Sau hát xẩm, ông đi bán thuốc Tây ở chợ Hàng Chiếu. Có khi bị công an bắt, xong lại thả, thả thì ông lại bán. Nghề mạo hiểm này cũng chỉ trụ được thời gian ngắn, sau đó bị cấm hoàn toàn. Ông chuyển sang bán kem rong. Lọ mọ đeo phích kem trước ngực dầm nắng cả ngày, kiếm được bát gạo cực khổ vô cùng. Ông chuyển sang nghề gắn bó dài lâu đến già: chuyên bán chổi dạo.

Ông mua chổi về, chuốt lại cho chắc chắn và đẹp, rồi mang đi bán dạo. Khách mua là cư dân khu hồ Trúc Bạch, chợ Châu Long, nhà trẻ, trường học, các cơ quan hành chính. Cứ 9h sáng, chiếc gậy có gắn quả chuông dẫn đường cho một ông già vai mang hơn hai chục cái chổi ló dạng ra đi từ ngõ nhỏ. Mỗi bước đi của ông đều có chiếc gậy dẫn đường.

Gậy khua chuông kêu, ông đi đến đâu là người sáng mắt biết chổi có mặt ở đó. Họ mua, nếu ai nỡ đùa về mệnh giá tiền, ông cũng từ tốn thể hiện lòng tin vào nhân tâm để tránh manh tâm. Những người bạn già khen ông một chặp: già rồi mà vẫn dẻo dai! Cao hứng, ông còn chơi cả… thơ: “Chổi này ai thấy cũng mê/ Đã sạch lại tốt chẳng chê điểm nào/ Tiền thì phải giá chẳng cao/ Mấy chục một cái xin mời vào mua”.

Ông nói: “Tôi ra khỏi nhà với chổi là kiếm 100 nghìn/ một ngày”. Chổi của ông thỉnh thoảng còn nhận được đơn đặt hàng của bạn bè đang sinh sống ở Angola. Khi ông nói chuyện, hay dùng cụm từ “chiếm lĩnh thị trường”, rồi thở dài “tiếc là tôi đã già”.

Ong-Van-Tien-Thinh- va-vo

Ông Văn Tiến Thịnh và người vợ lúc còn sống (Ảnh: Hoài An) 

Nhớ cái giọng nói dịu dàng của vợ

Ông Thịnh mồ côi mẹ từ nhỏ, lớn lên với sự thiết hụt tình thương của người phụ nữ. Bố của ông, không phải là “gà trống nuôi con” mà mải vui hạnh phúc với người khác.

Đến tuổi trưởng thành, ông gặp người con gái tên Tâm, làm ở một xưởng in chữ nổi của Hội người mù thành phố Hà Nội, đã cảm mếm vô cùng khi mới trò chuyện làm quen.

Mới đầu, vì chênh nhau đến 18 tuổi, nên hai người xưng hô là “chú và cháu”. “Loanh quanh chừng đâu 8 tuần thì cháu gọi chú là anh”, ông nhớ lại. Ông cũng không quên những tháng ngày hẹn hò của hai người cùng cảnh ngộ, ông gọi đấy là “thời gian chúng tôi yêu nhau sâu đậm”.

Một lễ cưới diễn ra với mâm cơm giản dị, ấm cúng, rồi cô dâu và chú rể về sống chung một nhà. “Lúc đó, tôi là kẻ bơ vơ nên khi có được hạnh phúc của một gia đình, thấy cuộc sống sang trang. Tôi lao động chăm chỉ để vợ đỡ khổ”, ông chia sẻ.

Vợ chồng ông Thịnh lần lượt sinh được hai đứa con gái. Khi vợ sinh đứa con gái đầu, ông đi hát xẩm trên tàu. Những đồng tiền ông kiếm được từ xẩm tàu chợ trong bảy năm ròng, đã giúp vợ nuôi con lớn lên. Tới giờ, ông vẫn không quên được những tấm lòng của người không quen biết dành cho vợ và con của ông. Có một người tốt bụng còn gửi tặng quần áo cho hai đứa con khi thấy ông cứ ngược xuôi với xẩm trong dịp áp Tết. Giờ, hai đứa con đã theo chồng trên phố lớn. Cuối tuần, căn phòng nhỏ bé của ông ngoại rộn tiếng cười nói trẻ con.

Sóng với nhau đến bạc mái đầu, ông luôn xem vợ như bạn tâm giao tri kỷ. Tuổi giả nhưng hai vợ chồng vẫn xưng “anh và em” ngọt như mía lùi. “Tình yêu là thứ không lí giải được. Cỏ cây hoa lá, các loại côn trùng…đến thì còn đến với nhau nữa là. Tôi với nhà tôi là nồi nào úp vung nấy, không phân biệt tuổi tác, miễn là danh chính ngôn thuận”, ông nói.

Năm 2015, vợ ông mất ở tuổi 59. Một mình ông với căn nhà quạnh vắng. Để bớt cô quạnh, ông làm bạn với chiếc đài suốt ngày. Ông cũng ít đi bán chổi, phải giữ gìn sức khỏe lúc tuổi già.

Nhiều lúc, ngồi buồn nhớ vợ, ông nhớ cái giọng nói dịu dàng bao năm quen thuộc của vợ. “Nỗi nhớ bà ấy, kể sao cho hết bây giờ? Nhớ sao cho khỏa nỗi lòng được đây?”, ông vẫn còn nguyên vẹn một tình yêu thương dành cho người vợ đã quá cố.

Vì rằng, đó là nghĩa phu thê, dẫu nay kẻ còn người mất!